• Ủy ban Công ước Nhân quyền là cơ quan giám sát thực hiện các công ước nhân quyền. Các ủy ban này quy định nghĩa vụ pháp lý của Nhà nước trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền tương ứng với phạm vi công ước. Khi một Nhà nước chấp thuận một công ước nhân quyền thông qua việc phê chuẩn[1] hoặc tham gia[2] một công ước, Nhà nước đó trở thành một thành viên với công ước này và có nghĩa vụ pháp lý đối việc thực thi các quyền quy định trong công ước này.[3] Các công ước quy định việc thành lập các ủy ban quốc tế gồm các chuyên gia độc lập (ủy ban công ước nhân quyền) để giám sát việc thực hiện các điều khoản của công ước ở những nước đã phê chuẩn hoặc tham gia công ước.[4]

    Hệ thống các ủy ban công ước của LHQ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng cường bảo vệ quyền con người ở trong nước. Chức năng nhiệm vụ chính của tất cả các ủy ban, là giám sát việc thực hiện công ước thông qua việc xem xét các báo cáo định kỳ của các Nhà nước thành viên. Bên cạnh đó, các ủy ban công ước cũng giải thích các điều khoản của công ước thông qua việc đưa ra các “bình luận chung”. Một số ủy ban công ước giải quyết các khiếu nại và tiến hành các điều tra về vi phạm nhân quyền.

    Tính đến tháng 4 năm 2014, có 10 ủy ban công ước đang hoạt động

    • Ủy ban Nhân quyền, giám sát việc thực hiện Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (1966) và Các Nghị định thư Tùy chọn kèm theo;

    • Ủy ban về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, giám sát việc thực hiện Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa(1966);

    • Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt Chủng tộc, giám sát việc thực hiện Công ước Quốc tế về Xóa bỏ Mọi hình thức Phân biệt chủng tộc (1965);

    • Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt đối xử với Phụ nữ, giám sát việc thực hiện Công ước về Xóa bỏ Mọi hình thức phân biệt đối xử với Phụ nữ(1979);

    • Ủy ban chống Tra tấn, giám sát việc thực hiện Công ước chống Tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục(1984);

    • Tiểu ban Ngăn ngừa Tra tấn, được thành lập từ Nghị định thư tùy chọn theo Công ước chống Tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục (2002);

    • Ủy ban Quyền Trẻ em, giám sát việc thực hiện Công ước Quyền Trẻ em (1989) và các Các Nghị định thư Tùy chọn kèm theo;

    • Ủy ban Lao động di trú, giám sát việc thực hiện Công ước quốc tế về Bảo vệ quyền của tất cả lao động di trú và thành viên gia đình họ (1990); và

    • Ủy ban về Quyền của Người Khuyết tật, giám sát việc thực hiện Công ước về Quyền của Người Khuyết tật (2006).[5]

    • Ủy ban về Mất tích cưỡng bức giám sát thực hiện Công ước về bảo vệ tất cả mọi người khỏi bị mất tích cưỡng bức (2006).

    Các Ủy ban công ước gồm 10 đến 23 chuyên gia độc lập có năng lực trong lĩnh vực nhân quyền được công nhận. Các chuyên gia này được đề cử và do các Nhà nước thành viên bầu ra theo nhiệm kỳ cố định bốn năm, có thể được gia hạn. Các Ủy ban được thành lập gần đây hạn chế số nhiệm kỳ của ủy viên ủy ban công ước trong hai nhiệm kỳ.

    Tất cả các ủy ban công ước đều được hỗ trợ bởi Đơn vị Công ước thuộc Ban Công ước Nhân quyền của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ (OHCHR). Đơn vị này tiếp nhận các thông tin, báo cáo và thư tín đến các ủy ban công ước, chuẩn bị các báo cáo, tiến hành các nghiên cứu, hợp tác kỹ thuật, cung cấp các chỉ dẫn và tư vấn cho các quốc gia thành viên, tổ chức các cuộc họp và thực hiện các công việc hậu cần và hỗ trợ cho các ủy ban công ước.

    Các ủy ban công ước họp tại Geneva hoặc New York.[6] Các chuyên gia, các đoàn đại biểu, và đại diện của xã hội dân sự có thể cùng tham gia công việc của các ủy ban công ước thông qua sự hỗ trợ của OHCHR. Xã hội dân sự ngày càng tham gia và đóng góp tích cực vào công việc của các ủy ban công ước.

    B. Các Ủy ban Công ước Nhân quyền làm việc như thế nào?

    Các Ủy ban Công ước Nhân quyền thực hiện một số chức năng để giám sát việc các Nhà nước thành viên công ước thực hiện công ước như thế nào.

    1. Nghĩa vụ báo cáo của Nhà nước thành viên công ước

    Khi một Nhà nước đã phê chuẩn hoặc tham gia một công ước, bên cạnh nghĩa vụ thực hiện những điều khoản cụ thể của công ước, Nhà nước ấy có nghĩa vụ nộp báo cáo định kỳ tới ủy ban công ước đó. Báo cáo nêu các biện pháp đã được sử dụng để thực hiện công ước. Các báo cáo phải đưa ra những biện pháp lập pháp, hành chính, tư pháp và các biện pháp khác đã được Nhà nước thực hiện để thực thi các điều khoản của công ước và cung cấp thông tin về những khó khăn Nhà nước ấy gặp phải. Những báo cáo này sau đó sẽ được ủy ban công ước thẩm tra với sự có mặt của một phái đoàn đại diện cho Nhà nước thành viên.

    Thông thường, khoảng một đến hai năm sau khi tham gia một công ước, Nhà nước thành viên sẽ phải trình một báo cáo ban đầu. Các báo cáo định kỳ tiếp theo thường phải nộp theo chu kỳ từ hai đến năm năm, tùy theo quy định trong công ước và các quyết định của ủy ban công ước. Nhiều ủy ban chấp nhận các báo cáo gộp, nghĩa là một Nhà nước thành viên có thể trình cùng lúc hai hoặc nhiều báo cáo định kỳ đã tới hạn trước ủy ban công ước. Hầu hết các ủy ban công ước đều xác định kỳ báo cáo tiếp theo khi đưa ra quan sát kết luận.

    Nhà nước thành viên công ước được khuyến khích coi việc chuẩn bị báo cáo với các ủy ban công ước không chỉ là việc hoàn thành nghĩa vụ quốc tế, mà còn là cơ hội để đánh giá hiện trạng về bảo vệ nhân quyền ở nước mình vì mục đích hoạch định chính sách công.

    2. Xem xét các báo cáo của nhà nước thành viên của các ủy ban công ước

    Danh sách vấn đề

    Trước phiên họp xem xét báo cáo của một Nhà nước thành viên, ủy ban sẽ chuẩn bị một danh sách vấn đề và các câu hỏi và chuyển danh sách này cho Nhà nước thành viên. Thông trường, Nhà nước thành viên sẽ trả lời danh sách vấn đề này bằng văn bản; nội dung văn bản sẽ được đưa lên trang web của OHCHR.

    Văn bản trả lời danh sách vấn đề sẽ bổ sung cho báo cáo của Nhà nước thành viên. Đôi khi, Nhà nước nộp báo cáo khá lâu mới đến lượt xem xét tại ủy ban nên danh sách vấn đề và bản trả lời danh sách vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng để cập nhật và làm rõ thông tin.

    Ủy ban về Xóa bỏ phân biệt đối xử với Phụ nữ, Ủy ban về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và Ủy ban Quyền Trẻ em chủ trì một nhóm làm việc trước kỳ họp trong vòng một tuần để chuẩn bị danh sách vấn đề và câu hỏi liên quan đến báo cáo của Nhà nước thành viên sẽ được xem xét trong kỳ họp liền sau đó. Ủy ban Nhân quyền giao nhiệm vụ này cho tổ làm việc về báo cáo quốc gia,[7] tổ này họp trong kỳ họp trước kỳ họp sẽ xem xét báo cáo của Nhà nước thành viên.

    Hầu hết các ủy ban đều bổ nhiệm một thành viên làm báo cáo viên cho một nước để đứng đầu việc hình thành danh sách vấn đề cho một nước cụ thể.

    Các nguồn thông tin khác

    Bên cạnh báo cáo của Nhà nước thành viên, các ủy ban công ước nhân quyền có thể nhận thông tin về việc thực thi các điều khoản công ước từ các cơ quan LHQ, các quỹ và chương trình của LHQ cũng như các tổ chức liên chính phủ, các cơ quan nhân quyền quốc gia, cũng như từ xã hội dân sự, đặc biệt là các NGO (cả trong nước và quốc tế), các hội nghề nghiệp và các tổ chức nghiên cứu.

    Xem xét báo cáo của Nhà nước thành viên

    Các Nhà nước thành viên được mời đến phiên họp của Ủy ban để trình bày báo cáo của họ, trả lời các câu hỏi của các ủy viên, và cung cấp thêm thông tin cho Ủy ban. Trên cơ sở tất cả các thông tin có được, ủy ban xem xét báo cáo cùng với đại diện của Chính phủ. Mục đích của việc xem xét báo cáo là cùng tiến hành đối thoại một cách xây dựng để hỗ trợ Nhà nước trong những nỗ lực của mình để thực thi một công ước đầy đủ và hiệu quả nhất có thể. Các ủy ban công ước không phải là các cơ quan tài phán; họ giám sát việc thực thi công ước và khuyến khích cũng như tư vấn cho Nhà nước.

    Các quan sát kết luận và khuyến nghị

    Trên cơ sở đối thoại với Nhà nước, và bất kỳ thông tin nào nhận được, các ủy ban công ước nhân quyền thông qua một văn bản thường được gọi là quan sát kết luận,[8] trong đó nêu cả những khía cạnh tích cực trong việc thực thi công ước của Nhà nước, và cả những lĩnh vực mà ủy ban công ước khuyến nghị Nhà nước cần tiếp tục hành động. Việc Nhà nước báo cáo lại với ủy ban trong kỳ báo cáo tiếp theo về những bước đã được tiến hành để thực hiện những khuyến nghị này, cũng như các điều khoản khác của công ước, là hết sức quan trọng.

    Theo dõi – tiếp nối các khuyến nghị

    Để hỗ trợ Nhà nước thực hiện các khuyến nghị của ủy ban, các ủy ban công ước nhân quyền đã bắt đầu đưa ra những quy trình nhằm đảm bảo các quan sát kết luận của họ được theo dõi và thực hiện hiệu quả. Một số ủy ban yêu cầu, trong quan sát kết luận của ủy ban, Nhà nước phải báo cáo lại với báo cáo viên đặc biệt chịu trách nhiệm về quốc gia đó hoặc theo chủ đề, về các biện pháp đã được thực thi để đáp ứng những khuyến nghị cụ thể hoặc “quan tâm ưu tiên”. Báo cáo viên sau đó sẽ báo cáo lại với ủy ban.

    Một số thành viên của các ủy ban công ước tiến hành chuyến thăm đến các quốc gia, theo lời mời của Nhà nước thành viên, để theo dõi tiếp việc báo cáo và thực thi các khuyến nghị trong quan sát kết luận.

    3. Xem xét khiếu nại từ các cá nhân cho rằng quyền của họ đã bị một Nhà nước thành viên vi phạm.

    Các ủy ban công ước nhân quyền có thể, nếu các điều kiện được thỏa mãn, xem xét các khiếu nại hoặc thông tin từ các cá nhân cho rằng quyền của họ đã bị Nhà nước vi phạm. Các ủy ban này là Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt Chủng tộc, Ủy ban Nhân quyền, Ủy ban chống Tra tấn, Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt đối xử với Phụ nữ, Ủy ban về Lao động di trú, Ủy ban về Quyền của Người Khuyết tật và Ủy ban về Mất tích Cưỡng bức, Ủy ban về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và Ủy ban Quyền Trẻ em.

    Một ủy ban công ước không thể xem xét khiếu nại về một Nhà nước thành viên trừ phi Nhà nước đó đã chính thức công nhận thẩm quyền xem xét khiếu nại của Ủy ban thông qua việc đưa ra một tuyên bố dưới điều khoản tương ứng của công ước, hoặc chấp thuận nghị định thư tùy chọn tương ứng.

    Khiếu nại và tranh chấp giữa các Nhà nước thành viên

    Nhiều công ước nhân quyền có các điều khoản cho phép các Nhà nước thành viên khiếu nại đến các ủy ban công ước tương ứng về việc một Nhà nước thành viên khác vi phạm công ước. Đến tháng 9/2008, thủ tục này chưa bao giờ được sử dụng.

    5. Điều tra

    Bốn Ủy ban công ước - Ủy ban chống Tra tấn, Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt đối xử với Phụ nữ, Ủy ban về Quyền của Người Khuyết tật và Ủy ban về Mất tích cưỡng bức - có thể tiến hành các điều tra kín nếu nhận được những thông tin đáng tin cậy trong đó có những bằng chứng rõ ràng về những vi phạm nghiêm trọng, ở quy mô lớn và có hệ thống của một Nhà nước thành viên đối với một công ước tương ứng. Các điều tra này sẽ không được tiến hành với các Nhà nước thành viên đã từ chối thủ tục này, và do đó đã chính thức không công nhận thẩm quyền của ủy ban tương ứng để tiến hành điều tra.[9]

    Khi đã chắc chắn và có sự chấp thuận của Nhà nước thành viên, việc điều tra có thể bao gồm một chuyến thăm tới một Nhà nước. Sau khi xem xét các phát hiện của cuộc điều tra, ủy ban sẽ chuyển kết quả đến Nhà nước thành viên liên quan, cùng với bất kỳ bình luận và khuyến nghị nào. Điều tra được tiến hành kín đáo và cần có sự hợp tác của Nhà nước thành viên trong suốt quá trình.

    Các thủ tục cảnh báo sớm và hành động khẩn cấp

    Từ năm 1993, Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt Chủng tộc đã xây dựng các thủ tục liên quan cảnh báo sớm và hành động khẩn cấp.[10] Các thủ tục cảnh báo sớm nhằm ngăn chặn những vấn đề ở các nước thành viên bùng phát thành xung đột mới, hoặc để ngăn chặn một xung đột tái phát. Các thủ tục hành động khẩn cấp nhằm giải quyết các vấn đề cần có sự chú ý ngay lập tức để ngăn chặn hoặc hạn chế phạm vi hoặc số lượng các vi phạm nghiêm trọng đối với Công ước Quốc tế về Xóa bỏ Mọi hình thức Phân biệt chủng tộc. Trong thực tế, các thủ tục này được sử dụng đồng thời. Các thủ tục này có thể được sử dụng do Ủy ban công ước chỉ định, hoặc do thành viên công ước có liên quan, bao gồm các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự, như là các nhóm bản địa.

    Các bình luận chung

    Mỗi Ủy ban Công ước Nhân quyền giải thích các điều khoản trong công ước mà ủy ban giám sát dưới dạng các bình luận chung (Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt Chủng tộc và Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt đối xử với Phụ nữ sử dụng thuật ngữ “khuyến nghị chung”).

    Các bình luận chung đưa ra chỉ dẫn cho việc thực thi một công ước. Các bình luận chung đề cập đến nhiều chủ đề, từ diễn giải chi tiết các điều khoản cụ thể đến hướng dẫn chung về thông tin mà các Nhà nước cần trình bày trong báo cáo về một số điều cụ thể trong công ước.

    8. Thảo luận chung/tranh luận chuyên đề

    Một số ủy ban công ước nhân quyền tổ chức các ngày thảo luận chung về một chủ đề cụ thể hoặc vấn đề quan tâm. Các thảo luận chung này thường mở rộng cho nhiều bên tham gia, như các đối tác LHQ, các phái đoàn từ các Nhà nước thành viên và xã hội dân sự, đặc biệt các NGO, các tổ chức học thuật, các hội chuyên nghiệp và các chuyên gia độc lập. Kết quả thảo luận có thể giúp các ủy ban công ước thảo một bình luận chung mới. Thảo luận cũng giúp các Nhà nước và các bên liên quan hiểu rõ các yêu cầu của công ước.

    Cuộc họp thường niên của các chủ tịch ủy ban công ước nhân quyền và họp liên ủy ban

    Cuộc họp thường niên của các Chủ tich Ủy ban Công ước Nhân quyền diễn ra tại Geneva và là diễn đàn cho thành viên của các Ủy ban Công ước Nhân quyền thảo luận về công việc của họ, và cân nhắc những cách thức làm cho hệ thống cơ quan công ước có hiệu quả hơn về tổng thể. Các vấn đề được nêu ra trong những cuộc họp này gồm có việc điều phối chung và cái thiện chung các thủ tục báo cáo nhân quyền, hài hòa phương thức làm việc của các ủy ban, và theo dõi – tiếp thu các hội nghị quốc tế và vấn đề tài chính. Song song với cuộc họp các chủ tịch là các tham vấn không chính thức với các Nhà nước thành viên cũng như các đối tác LHQ và NGO.

    Các cuộc họp liên ủy ban bao gồm các chủ tịch ủy ban và thêm hai thành viên của mỗi ủy ban. Có thêm thành viên của các ủy ban tham gia cuộc họp này cho phép thảo luận chi tiết hơn các khuyến nghị về các vấn đề liên quan đến phương thức làm việc và các vấn đề khác bên cạnh việc thảo luận ở các cuộc họp thường niên của chủ tịch.

    C. Tiếp cận và làm việc với các Ủy ban Công ước Nhân quyền như thế nào?

    Làm việc với các ủy ban công ước nhân quyền là một cách để xã hội dân sự có thể đóng góp hiệu quả cho việc thực thi nhân quyền và xây dựng những hướng dẫn cụ thể về nhân quyền. Ở trong nước, xã hội dân sự đóng một vai trò quan trọng thông qua các hoạt động giám sát, thúc đẩy và theo dõi liên quan đến công việc của các ủy ban công ước. Công việc của các Ủy ban Công ước Nhân quyền cũng đã có kết quả tốt hơn nhờ sự tham gia tích cực của các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự ở nhiều giai đoạn trong chu kỳ báo cáo cũng như trong các quá trình khuyến nghị, điều tra và cảnh báo sớm.

    Mỗi ủy ban khác nhau thường có cách thức quy định cụ thể để cùng làm phối hợp với xã hội dân sự. Công ước Quyền Trẻ em, Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả lao động di trú và thành viên gia đình họ, và Công ước về Quyền của người Khuyết tật có quy định rõ vai trò của “các cơ quan có khả năng khác” trong công việc của cơ quan công ước liên quan, với hai công ước đầu tiên vai trò này được hiểu rõ là của các NGO. Ủy ban về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa và Ủy ban Quyền Trẻ em đã có những hướng dẫn về sự tham gia của xã hội dân sự trong công việc của ủy ban (những hướng dẫn này dành riêng cho NGO).[11]

    1. Thúc đẩy việc thông qua các công ước nhân quyền mới và việc phê duyệt hoặc tham gia các công ước hiện hành

    Xã hội dân sự có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển và thông qua các công ước nhân quyền mới. Bằng cách vận động xây dựng một công ước mới và thúc đẩy các Nhà nước phê chuẩn công ước, các tổ chức và cá nhân trong xã hội dân sự có thể giúp thúc đẩy những thông lệ quốc tế và việc bảo vệ quyền con người.

    Nếu một Nhà nước chưa phê chuẩn hoặc tham gia một công ước hay một nghị định thư tùy chọn, các tác nhân của xã hội dân sự trong nước có thể khuyến khích Chính phủ tham gia bằng cách phối hợp cùng cơ quan nhân quyền quốc gia và truyền thông trong nước, và/hoặc nâng cao nhận thức của công chúng về vấn đề này.

    2. Giám sát nghĩa vụ báo cáo của các Nhà nước thành viên

    Các nhà nước thành viên không phải lúc nào cũng có thể - vì những lý do khác nhau – đáp ứng nghĩa vụ báo cáo của họ. Xã hội dân sự có thể khuyến khích Chính phủ nộp báo cáo đúng hạn, và có thể nâng cao nhận thức của công chúng về nghĩa vụ của Nhà nước phải nộp báo cáo vào một thời điểm nhất định. Các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự cũng có thể cung cấp cho Nhà nước những thông tin bổ sung về thực thi công ước mà họ đã thu thập được trong quá trình hoạt động, và làm việc với tư cách là đối tác của Nhà nước trong việc thực thi công ước.

    Nếu quá hạn đã lâu mà một Nhà nước không nộp báo cáo và không phản hồi yêu cầu của ủy ban về việc nộp báo cáo, các ủy ban công ước nhân quyền có thể xem xét tình hình của nước đó tại một phiên họp của ủy ban mà không có báo cáo của Nhà nước thành viên. Các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự, cùng với các tổ chức của LHQ, có thể đóng góp thông tin cho thủ tục xem xét này. Dựa trên các thông tin được cung cấp và đối thoại với Nhà nước thành viên, ủy ban sẽ đưa ra quan sát kết luận, bao gồm các khuyến nghị.

    3. Nộp thông tin bằng văn bản

    Trong suốt chu kỳ báo cáo, các ủy ban sẵn sàng tiếp cận các thông tin thêm về tất cả các lĩnh vực liên quan trong công ước để giám sát có hiệu quả việc thực thi công ước của Nhà nước. Đối với các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự, cách thức hiệu quả nhất để nộp thông tin là thông qua một báo cáo bằng văn bản. Những báo cáo hiệu quả nhất là những báo cáo được soạn thảo với sự hợp tác và điều phối của nhiều tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự. Các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự vì thế được khuyến khích cùng nộp báo cáo chung về một quốc gia.

    Các ủy ban công ước khác nhau có cách thức nhận báo cáo khác nhau. Nhìn chung, các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự nên nộp các thông tin và tài liệu theo báo cáo của Nhà nước với ủy ban công ước và trước khi báo cáo được xem xét.

    Ủy ban về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt đối xử với Phụ nữ và Ủy ban về Quyền Trẻ em sẵn sàng tiếp nhận các báo cáo từ các NGO trong nước và quốc tế cũng như từ các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự (đặc biệt là các chuyên gia độc lập, các viện nghiên cứu, các hội nghề nghiệp và nghị sỹ) tại các nhóm làm việc trước phiên họp để chuẩn bị các danh sách các vấn đề. Ủy ban Quyền Trẻ em yêu cầu các thông tin bằng văn bản phải được nộp trước hai tháng trước khi bắt đầu nhóm làm việc trước kỳ họp. Các tổ chức và cá nhân của xã hội dân sự, bao gồm các viện nghiên cứu và hội nghề nghiệp, cũng có thể nộp thông tin bằng văn bản cho các nhóm làm việc về báo cáo quốc gia của Ủy ban chống Tra tấn và Ủy ban Nhân quyền.

    Các thông tin bằng văn bản nộp cho các ủy ban công ước nhân quyền nhìn chung được coi là thông tin công khai. Tuy nhiên, các ủy ban sẽ giữ bí mật những thông tin này nếu được yêu cầu.

    Các báo cáo bằng văn bản của các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự không phải là tài liệu chính thức của LHQ, và cũng không được biên tập hay dịch. Vì vậy các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự cần lưu ý cân nhắc sử dụng ngôn ngữ nào để trình bày thông tin và đảm bảo rằng văn bản được nộp sẽ được viết bằng một trong số các ngôn ngữ chính thức của các ủy ban.

    Trước khi nộp thông tin bằng văn bản, cần kiểm tra:

    • Nhà nước có phê chuẩn hay tham gia công ước liên quan không, và, nếu có tham gia, có bảo lưu điều khoản nào không (nhìn chung các bảo lưu không ngăn trở các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự đưa ra các vấn đề cụ thể và thông báo các vấn đề này tới ủy ban);

    Thời hạn nộp báo cáo là khi nào và kỳ họp tiếp theo của ủy ban là bao giờ. Những ngày này có thể thay đổi mà chỉ được báo trước trong thời gian ngắn, nên cần giữ liên lạc thường xuyên với ban thư ký của ủy ban trong thời gian sắp diễn ra kỳ họp sắp tới.

    • Các vấn đề chính đã hoặc đang được xem xét. Các tổ chức và cá nhân của xã hội dân sự cần nắm được nội dung của các báo cáo trước của Nhà nước, cũng như các quan sát kết luận và các danh sách các vấn đề trước kia; và

    Hướng dẫn báo cáo của từng ủy ban công ước nhân quyền (để các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự có thể giám sát xem báo cáo của Nhà nước đã tuân thủ hướng dẫn này đến mức nào).

    4. Tham dự và đóng góp trong các phiên họp của các ủy ban công ước nhân quyền

    Tham dự các phiên họp

    Báo cáo của Nhà nước được xem xét trong các phiên họp công khai, trong đó các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự có thể tham dự với tư cách quan sát viên. Việc tham dự các phiên làm việc của ủy ban công ước nhân quyền cho phép các tác nhân trong xã hội dân sự:

    • Trình bày thông tin cho ủy ban với tất cả ủy ban hoặc với từng ủy viên;

    • Quan sát đối thoại giữa ủy ban và Nhà nước; và

    • Trực tiếp chứng kiến những vấn đề do ủy ban nêu ra và các khuyến nghị của ủy ban.

    Mỗi ủy ban có quy định riêng về các nguyên tắc và cách thức tham gia của xã hội dân sự trong các phiên họp của ủy ban, cũng như độ dài của phiên chuẩn bị trước phiên xem xét báo cáo.

    Cần gửi yêu cầu xác nhận chấp thuận tham dự các phiên họp của ủy ban công ước nhân quyền đến ban thư ký trước kỳ họp.

    Đóng góp với các phiên họp

    Các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự, bao gồm các chuyên gia độc lập, các học giả và đại diện của các nhóm chuyên nghiệp, có thể có vai trò tích cực trong các phiên họp của ủy ban. Họ không được tham gia đối thoại giữa Nhà nước thành viên và ủy ban, nhưng họ có thể trình bày trước các ủy viên về những vấn đề có trong báo cáo bằng văn bản. Hầu hết các ủy ban đều dành thời gian cho báo cáo bằng lời của các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự.

    Các phiên họp của Ủy ban

    Ủy ban Nhân quyền, Ủy ban về Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Ủy ban chống Tra tấn, Ủy ban về Xóa bỏ phân biệt đối xử với Phụ nữ và Ủy ban Lao động di trú dành thời gian nghe các báo cáo bằng lời trong phiên báo cáo. Đây là cơ hội cho các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự trình bày trước ủy ban những vấn đề cốt yếu trong báo cáo bằng văn bản của họ.

    Ủy ban về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa và Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt đối xử với Phụ nữ tổ chức các phiên họp công khai, nhưng các phiên báo cáo bằng lời của các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự diễn ra trong các phiên họp kín.

    Nhóm làm việc trước phiên họp

    Ủy ban về Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt đối xử với Phụ nữ và Ủy ban Quyền trẻ em dành thời gian riêng cho các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự đóng góp với các nhóm làm việc trước phiên họp. Trong khi các ủy ban khác có thể không có kênh cung cấp thông tin chính thức dành cho xã hội dân sự, vẫn có thể bố trí các cuộc gặp không chính thức với các thành viên ủy ban thông qua sự sắp xếp với ban thư ký của từng ủy ban.

    Đóng góp của xã hội dân sự cho các nhóm làm việc trước phiên họp có thể được đưa vào danh sách vấn đề gửi đến Nhà nước thành viên. Các nhóm làm việc trước phiên họp cũng tạo cơ hội cho các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự nộp báo cáo bằng văn bản. Hầu hết các ủy ban không cho phép các phái đoàn Chính phủ có mặt trong các cuộc họp trước phiên họp.

    Cuộc họp không chính thức

    Các phiên họp của ủy ban có thể tạo những cơ hội cho các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự tiếp xúc không chính thức với các thành viên của ủy ban. Các cuộc họp không chính thức, thường do NGO sắp xếp, có thể được tổ chức bên lề đan xen các cuộc họp chính thức, thường trong lúc nghỉ trưa từ 1:00 đến 3:00. Lưu ý rằng các cuộc họp không chính thức vào giờ “ăn trưa” không được bố trí phiên dịch.

    Trọng tâm của các cuộc họp không chính thức nên là các vấn đề và các Nhà nước mà ủy ban đang xem xét. Các cuộc trao đổi không chính thức thường diễn ra trong ngày trước hay cùng ngày xem xét báo cáo của Nhà nước thành viên nước đó. Các cuộc họp không chính thức được tổ chức và điều phối tốt thường sẽ được các thành viên ủy ban công ước tham dự nhiều hơn và sẽ hiệu quả hơn nhiều cuộc họp không chính thức về nhiều vấn đề khác nhau. Các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự vì thế nên điều phối hoạt động của mình.

    Trong một số trường hợp, ban thư ký của ủy ban công ước có thể giúp tổ chức các cuộc trao đổi không chính thức bằng cách cung cấp phòng họp và thiết bị, và thông báo cho các ủy viên về cuộc họp.

    5. Theo dõi và giám sát về các quan sát kết luận của các ủy ban công ước nhân quyền

    Khi phiên họp đã diễn ra và các quan sát kết luận đã được thông qua, xã hội dân sự có thể có các hoạt động tiếp theo ở cấp quốc gia để nâng cao nhận thức về các khuyến nghị và khuyến khích Nhà nước thành viên thực hiện các kết luận quan sát.

    Vì thế, các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự rất cần hiểu rõ các quan sát kết luận của các ủy ban đưa ra.

    Xã hội dân sự có thể tiếp tục sử dụng và theo dõi các quan sát kết luận của các ủy ban công ước nhân quyền bằng cách:

    Hợp tác cùng với Chính phủ để hỗ trợ chính phủ đạt được các nghĩa vụ của Chính phủ; xã hội dân sự thường hành xử như những người tiên phong thúc đẩy cải cách luật pháp trong nước và thiết lập những chính sách quốc gia mới. Các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự cũng có thể sử dụng các quan sát kết luận làm cơ sở đối thoại với Chính phủ và cho các chương trình hành động của chính mình.

    Giám sát tình hình nhân quyền ở các nước cụ thể và những bước đã được tiến hành ở địa phương để thực hiện những quan sát kết luận của các ủy ban;

    Nâng cao hiểu biết về nội dung các cuộc họp của ủy ban, các khuyến nghị Nhà nước được yêu cầu phải thực hiện, và làm thế nào để việc thực hiện các quan sát kết luận có thể giúp tăng sự thụ hưởng các quyền con người ở trong nước. Việc này có thể tiến hành thông qua tổ chức các thảo luận chuyên đề, tọa đàm, seminar và hội thảo; thông qua việc dịch và xuất bản các kết luận; hoặc thông qua hợp tác với các cơ quan nhân quyền quốc gia và truyền thông trong nước.

    Đóng góp cho công việc của các ủy ban công ước nhân quyền bằng cách thông báo tới các ủy ban về tiến trình Chính phủ thực thi các quan sát kết luận và khuyến nghị, cung cấp cho các ủy ban những thông tin có chiều sâu và trọng tâm.

    6. Gửi Khiếu nại cá nhân đến các ủy ban công ước nhân quyền

    Bất kỳ cá nhân nào thấy quyền của mình theo quy định của một công ước đã bị một Nhà nước thành viên vi phạm có thể chuyển một khiếu nại đến ủy ban liên quan, với điều kiện là Nhà nước đó đã công nhận năng lực của ủy ban trong việc tiếp nhận khiếu nại. Khiếu nại cũng có thể do bên thứ ba thực hiện, bao gồm các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự, thay mặt một cá nhân nếu cá nhân đó đã chấp nhận bằng văn bản việc khiếu nại (có “ủy quyền hành động”) hoặc cá nhân này không có khả năng đưa ra sự đồng ý đó.

    Chỉ có thể nộp Khiếu nại cá nhân nếu đã sử dụng hết các biện pháp trong nước và thỏa mãn tất cả các tiêu chí khác.

    7. Cung cấp thông tin cho các điều tra kín

    Các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự, bằng cách cung cấp thông tin cho các ủy ban, có thể ảnh hưởng lên quyết định của một ủy ban để tiến hành một điều tra kín. Các điều tra kín là một cơ chế quan trọng cho phép các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự đưa các vi phạm và tình hình quan ngại ra trước các ủy ban.

    Hầu hết các điều tra kín được tiến hành qua các thông do các NGO đưa ra. Ví dụ, Ủy ban chống Tra tấn đã tiến hành bảy cuộc điều tra kín (về Brazil, Ai Cập, Mexico, Peru, Serbia và Montenegro, Sri Lanka và Thổ Nhĩ Kỳ) đều được khởi xướng trên cơ sở thông tin nhận được từ các NGO). Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt đối xử với Phụ nữ đã hoàn thành một điều tra (Mexico). Các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự cũng có thể đóng góp thông tin trong quá trình điều tra.

    8. Cung cấp thông tin cho các thủ tục cảnh báo sớm và hành động khẩn cấp

    Thông tin do các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự chuyển đến có thể giúp Ủy ban Xóa bỏ Phân biệt Chủng tộc khởi động các thủ tục cảnh báo sớm và hành động khẩn cấp. Các thủ tục này đã từng được khởi động nhờ thông tin nhận được từ các NGO và các nhóm bản địa.

    9. Tham dự và đóng góp vào cuộc họp thường niên của các chủ tích và cuộc họp liên ủy ban

    Các tổ chức và cá nhân thuộc xã hội dân sự có thể tham dự các cuộc họp này với tư cách quan sát viên.

    Các cuộc họp liên ủy ban có một mục trong chương trình nghị sự cho phép các NGO tương tác trực tiếp với các thành viên ủy ban về những chủ đề chung liên quan đến chức năng, các thủ tục và phương thức làm việc của các ủy ban công ước.


    [1] Phê chuẩn, chấp thuận và phê duyệt đều là các động thái chỉ hành động của Nhà nước đưa ra sự đồng ý chấp thuận ràng buộc với một công ước. Ký kết cũng là một bước phê chuẩn, bước này cũng tạo ra một nghĩa vụ đối với một Nhà nước, nghĩa vụ ấy nghĩa là trong giai đoạn kể từ khi ký đến khi phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê duyệt, cần tích cực tránh những hành vi đi ngược lại mục đích và chủ định của công ước đã ký (xem điều 18 Công ước Vienna về Luật Công ước).

    [2] Tham gia là động thái của Nhà nước chưa ký một công ước và bày tỏ việc chấp thuận trở thành một bên của một công ước bằng cách nộp một “văn bản tham gia” cho Tổng Thư ký LHQ. Tham gia cũng có hiệu lực pháp lý như phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt.

    [3] Trừ những điều khoản mà một Nhà nước đã bảo lưu. Bảo lưu nghĩa là một tuyên bố của một Nhà nước trong đó Nhà nước ấy công khai loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực pháp lý của một vài điều khoản cụ thể trong một công ước áp dụng cho Nhà nước đó. Một bảo lưu cho phép một Nhà nước có thể tham gia một công ước đa phương mà nếu không có bảo lưu ấy thì Nhà nước này sẽ không thể hoặc không muốn tham gia. Nhà nước có thể bảo lưu khi ký, phê chuẩn, chấp thận hay tham gia một công ước. Các bảo lưu phải không được mâu thuẫn với đối tượng và mục đích của công ước.

    [4] Công ước quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa không có quy định cụ thể về việc thành lập một cơ quan công ước, mà giao cho Hội đồng Kinh tế và Xã hội (ECOSOC) một chức năng chung để giám sát việc thực thi công ước. Năm 1985, ECOSOC thiết lập một nhóm làm việc theo kỳ họp để hỗ trợ việc xem xét các báo cáo của các Nhà nước, sau đó được tổ chức lại theo mô hình các cơ quan công ước và được đặt lại tên là “Ủy ban về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (Nghị quyết 1985/17 của ECOSOC). Ủy ban này, làm việc lần đầu năm 1987, hiện được coi là một ủy ban công ước.

    [5] Số nhà nước phê chuẩn hay tham gia một công ước nhân quyềnđã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Đến 30/9/2008, có: 162 Nhà nước là thành viên Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị; 159 là thành viên Công ước quốc tế về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; 173 là thành viên Công ước Quốc tế về Xóa bỏ Mọi hình thức Phân biệt chủng tộc; 185 là thành viên Công ước quốc tế về Xóa bỏ mọi hình thức Phân biệt đối xử với Phụ nữ; 145 là thành viên Công ước chống Tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục ; 193 là thành viên Công ước Quyền trẻ em; 39 là thành viên Công ước về Bảo vệ quyền của tất cả lao động di trú và thành viên gia đình họ; và 40 là thành viên của Công ước về Quyền của Người Khuyết tật.

    [6] Kỳ họp tháng Ba (“mùa xuân”) của Ủy ban nhân quyền diễn ra tại New York, các kỳ họp của Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt đối xử với Phụ nữ diễn ra ở cả New York và Geneva.

    [7] Tổ làm việc về báo cáo quốc gia bao gồm một báo cáo viên cho nước thành viên, và bốn đến sáu thành viên của Ủy ban do chủ tịch Ủy ban đề cử.

    [8] Hoặc một số ủy ban gọi là “Bình luận kết luận” – tùy theo ngôn ngữ trong mỗi công ước.

    [9] Khi phê chuẩn hoặc tham gia Công ước chống Tra tấn, Nhà nước có thể chọn không chấp thuận thủ tục này bằng cách đưa ra một tuyên bố dưới điều 28; Các nước thành viên của Nghị định thư Tùy chọn bổ sung cho Công ước về Xóa bỏ Mọi hình thức Phân biệt đối xử với Phụ nữ cũng có thể không chấp thuận năng lực này của Ủy ban công ước bằng cách ra một tuyên bố dưới điều 10. Bất kỳ nước nào trước đó đã chọn không chấp nhận thủ tục này sau đó đều có thể thay đổi và chấp nhận thủ tục.

    [10] Tham khảo tài liệu A/48/18, phụ lục III.

    Xem “Sự tham gia của NGO vào các hoạt động của Ủy ban về Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”(E/C.12/2000/6) và Hướng dẫn cho sự tham gia của các đối tác (NGO và các chuyên gia độc lập) với nhóm làm việc trước phiên họp của Ủy ban Quyền Trẻ em (CRC/C/90, phụ lục VIII).

    [11] Xem “Sự tham gia của NGO vào các hoạt động của Ủy ban về Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”(E/C.12/2000/6) và Hướng dẫn cho sự tham gia của các đối tác (NGO và các chuyên gia độc lập) với nhóm làm việc trước phiên họp của Ủy ban Quyền Trẻ em (CRC/C/90, phụ lục VIII).